“Văn Lang 30 năm – Ký ức và tâm tình” là chuỗi bài viết ghi lại những hồi ức, dấu ấn và tình cảm của các thế hệ cán bộ, giảng viên, nhân viên, sinh viên và cựu sinh viên gửi về nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập Trường. Những câu chuyện chân thành gặp nhau, kết nối thành dòng ký ức chung, phản chiếu một cộng đồng bền bỉ gắn bó và không ngừng phát triển.
Tôi đến với Văn Lang từ cơ duyên làm việc cùng Trường Đại học Tài chính – Kế toán với cô Hảo Thành. Cô là Tiến sĩ Tài chính từ Nga trở về, một trong những cán bộ đầu tiên của trường Tài chính – Kế toán phía Nam. Khi cô được giao nhiệm vụ Trưởng khoa Tài chính – Kế toán của Trường Đại học Văn Lang (VLU), cô gặp tôi và mời tôi hợp tác để xây dựng khoa, chuẩn bị khai giảng khóa 1. Thời điểm đó, mô hình trường tư (dân lập) còn rất mới; tương lai ra sao chưa ai hình dung được. Chúng tôi cùng các nhà giáo, nhà quản lý từ nhiều đơn vị, nhiều chuyên môn khác nhau họp hành, thảo luận, soạn thảo chương trình đào tạo, mời giảng viên, triển khai công tác quản lý… tất cả đều bắt đầu từ con số không, cơ sở vật chất gần như chưa có gì.

Sau giai đoạn tiền sáng lập và sáng lập, tôi, cô Thành và các thầy cô quản lý – giảng dạy chủ chốt đảm nhiệm công tác lãnh đạo các khoa, phòng. Mỗi chiều thứ ba hằng tuần, chúng tôi họp tại văn phòng Công ty Gen Pacific (391A Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Q.3) – nơi thầy Bùi Quang Độ, Tổng Giám đốc Công ty (đơn vị bảo trợ cho trường theo mô hình dân lập), đồng thời là Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị trường, trực tiếp điều hành. Đây được xem như “trụ sở đầu tiên” của Đại học Dân lập Văn Lang.
Trong ký ức của tôi, giữa hành trình 30 năm của Văn Lang, những buổi chiều thứ ba ấy là dấu ấn đặc biệt nhất – một kỷ niệm không thể nào quên.
Tôi nhớ hình ảnh thầy Chi – Chủ tịch và Hiệu trưởng đầu tiên – người mang đến cho Văn Lang sức sống mới với tư duy giáo dục đại học hiện đại học hỏi từ nước ngoài. Cùng với thầy Tâm và thầy Độ, ba thầy đã thống nhất đặt tên “Văn Lang” từ tháng 10/1993 sau buổi họp đầu tiên, và chọn logo Trống đồng Đông Sơn.

Phương châm “Đạo đức – Ý chí – Sáng tạo” được thầy Chi đề xuất tháng 11/1993. Đến tháng 8/1995, thầy nhờ nhạc sĩ Cửu Phúc sáng tác bài “Văn Lang đại học đường”, trở thành bài hát truyền thống suốt 30 năm. Thầy Độ, với vai trò Tổng Giám đốc Công ty Gen, hỗ trợ Văn Lang trụ sở làm việc – hội họp miễn phí, đồng hành và bảo trợ trường trong những ngày đầu gian khó.
Tôi còn nhớ thầy Chi thích nghe Sơn Nữ ca, còn cô Thành hát rất hay bài “Mặt trời bé con” và những ca khúc tiếng Nga thời ấy. Thầy Xu với nụ cười hiền hòa và cặp kính lão luôn sẵn lòng “cho mượn” khi cô Thành quên mang kính. Thầy Hài vui tính, thầy Ba lúc nào cũng tạo không khí rộn ràng sau các buổi họp. Thời đó chẳng có kinh phí, không teabreak, chỉ có cốc trà – nhưng ấm áp và đầy sự gắn kết.
Tôi cũng không quên nụ cười hiền của thầy Tâm. Tôi may mắn được công tác cùng thầy tại Đại học Oregon tháng 4–5/2000, chia sẻ nhiều câu chuyện đời và chuyện nghề. Có lần thầy nói: “Anh góp 300 triệu kinh phí ban đầu. Nếu mua đất để dành, chắc ai cũng nói hiệu quả hơn. Nhưng thôi, cứ ưu tiên lo cho Văn Lang trước đã.” Khi trường được cấp phép thành lập, thầy kể: “Anh mang giấy phép đặt lên bàn thờ bố anh – nhà giáo Nguyễn Đắc Lương.” Những câu nói ấy đến giờ vẫn in sâu trong tôi.

Ba mươi năm trôi qua, thì thầy Chi, thầy Độ, thầy Tâm, cô Thành đều đã rời xa mãi mãi. Các thầy Ba, thầy Hài, thầy Biền, thầy Diệp, thầy Hùng… cũng lần lượt hội ngộ cùng thế hệ khởi xướng ban đầu, theo quy luật sinh – tử không tránh khỏi. Thầy Quế, thầy Phương, thầy Muôn và nhiều thầy cô khác nay đều trên 80, đã nghỉ hưu nhiều năm. Chưa biết lễ kỷ niệm sắp tới các thầy cô có thể tham dự hay không, nhưng Văn Lang mãi khắc ghi công lao của những người đặt nền móng trong buổi đầu tay trắng. Nhờ sự hy sinh và tâm huyết ấy, hôm nay Văn Lang trưởng thành, ghi tên mình trên bản đồ xếp hạng quốc tế.

Từ những buổi chiều thứ ba cách đây hơn 30 năm, Văn Lang đã đào tạo hàng chục ngàn cử nhân, kỹ sư, thạc sĩ theo đúng phương châm “Đạo đức – Ý chí – Sáng tạo”. Các thế hệ cựu sinh viên VLU luôn sống tình nghĩa, biết ơn người đi trước – từ lãnh đạo đầu tiên đến những người đặt nền tảng.
Hằng năm, đoàn sinh viên tiêu biểu từ khóa 1 đến nay được ra thăm Đền Hùng – Phú Thọ, một hoạt động ý nghĩa nhằm giáo dục truyền thống và bản sắc Văn Lang xuyên suốt hành trình 10–12 ngày qua nhiều vùng đất của Tổ quốc. Sự phát triển của Văn Lang chính là minh chứng cho hiệu quả của mô hình xã hội hóa giáo dục mà Nhà nước chủ trương.
Tôi hân hạnh được đồng hành suốt chặng đường 30 năm ấy, và chỉ mong rằng các thầy cô từ buổi đầu tiên – những người đã có mặt trong những chiều thứ ba năm nào – sẽ luôn bình an, giữ gìn sức khỏe và có thể gặp lại nhau trong lễ kỷ niệm đặc biệt này.
TS. Nguyễn Thị Hồng Hà - Trưởng phòng, Phòng Quản lý Cơ sở vật chất Cơ sở 1, 2
Thẻ